10:58 08/03/2012
Cỡ chữ

Từ xa xưa Quảng Ngãi đã là địa bàn cư trú của cư dân ven biển miền Trung. Qua nhiều biến thiên của lịch sử, mảnh đất này đã có ít nhiều sự đổi thay. Vào thời Lê, vùng đất Quảng Ngãi ngày nay là phủ Tư Nghĩa, trực thuộc Thừa tuyên Quảng Nam. Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng đổi phủ Tư Nghĩa thành phủ Quảng Nghĩa. Năm 1808, vua Gia Long đổi thành trấn Quảng Nghĩa. Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn Quảng Nghĩa thành tỉnh Quảng Nghĩa.

Bình minh trên biển Lý Sơn

2.1. Lược sử hình thành và phát triển

Từ xa xưa Quảng Ngãi đã là địa bàn cư trú của cư dân ven biển miền Trung. Qua nhiều biến thiên của lịch sử, mảnh đất này đã có ít nhiều sự đổi thay. Vào thời Lê, vùng đất Quảng Ngãi ngày nay là phủ Tư Nghĩa, trực thuộc Thừa tuyên Quảng Nam. Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng đổi phủ Tư Nghĩa thành phủ Quảng Nghĩa. Năm 1808, vua Gia Long đổi thành trấn Quảng Nghĩa. Năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn Quảng Nghĩa thành tỉnh Quảng Nghĩa.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, thị xã Quảng Ngãi (nay là thành phố Quảng Ngãi) là đơn vị hành chánh thuộc tỉnh. Sau khi đất nước thống nhất, ngày 10.11.1975 tỉnh Quảng Ngãi hợp nhất với tỉnh Bình Bịnh thành tỉnh Nghĩa Bình; thị xã Quảng Ngãi hợp nhất với huyện Tư Nghĩa thành thị xã Quảng Ngãi. Tháng 7.1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập và thị xã Quảng Ngãi trở thành tỉnh lỵ như trước. Năm 2002, thị xã Quảng Ngãi được công nhận đô thị loại 3 và đến ngày 26.8.2005 có Nghị định của Chính phủ thành lập thành phố loại 2, trực thuộc tỉnh.

2.2. Nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa

2.2.1. Nhân vật lịch sử

Quảng Ngãi nổi tiếng về những trang sử hào hùng và tinh thần cách mạng với các tên tuổi như: Bùi Tá Hán, Lê Văn Duyệt, Trương Định, Trương Quyền, Nguyễn Bá Loan, Phạm Kiệt, Phạm Văn Đồng, Trần Quý Hai, Trần Văn Trà,… Tiêu biểu là các nhân vật:

- Trương Định (1820 - 1864): Trương Định sinh quán làng Tư Cung Nam, nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1844, ông theo cha vào Gia Định rồi lấy vợ và lập nghiệp ở Tân An, tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Long An). Hưởng ứng chính sách khẩn hoang của triều đình Nguyễn, Trương Định mộ dân nghèo, lập đồn điền (vừa làm ruộng vừa phiên chế thành quân dự bị) ở Gia Định, được phong chức Phó Quản cơ, rồi Quản cơ, nên thường được gọi là Quản Định. Khi quân Pháp tấn công vào Gia Định (1859), Trương Định đưa cơ binh ở đồn điền tham gia chống giặc, dùng chiến thuật du kích, tấn công bất ngờ, gây cho Pháp rất nhiều khó khăn. Một trong những chiến công nổi tiếng là phục kích giết chết tên đại úy Barbe, trừng trị nhiều tên tay sai của giặc Pháp, trong đó có Bá hộ Huy ở Đồng Sơn, tiến công các đồn giặc ở Gia Thạch, Rạch Gầm và nhiều lần đánh đồn Kỳ Hoà. Tháng 3.1862 quân Pháp rút chạy khỏi Gò Công.

Ngày 5.6.1862, triều đình nhà Nguyễn ký hoà ước Nhâm Tuất giao 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, hạ lệnh cho Trương Định bãi binh và đi nhận chức Lãnh binh ở An Giang. Nhưng theo yêu cầu của nhân dân và các nghĩa sĩ, Trương Định đã khước từ lệnh của triều đình và nhận danh hiệu "Bình Tây Đại nguyên soái" do dân phong, tiếp tục lãnh đạo các cuộc chiến đấu chống giặc Pháp.

Ngày 20.08.1864, do sự phản bội của Huỳnh Văn Tấn, căn cứ của Trương Định bị bao vây chặt. Trong cuộc chiến đấu không cân sức, Trương Định bị trọng thương. Không để rơi vào tay giặc, ông đã dùng gươm tự sát để bảo toàn thanh danh, khí tiết của người anh hùng. Khi ấy ông 44 tuổi.

- Lê Văn Duyệt (1763 - 1832): Lê Văn Duyệt sinh quán tại Mỹ Tho (tỉnh Định Tường cũ), nhưng quê gốc ở làng Bồ Đề, nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

Lê Văn Duyệt theo phò Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn và trở thành một trong những khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong chức Khâm sai chưởng tả quân dinh, Bình Tây tướng quân, tước Quận công. Tuy nhiên, những đóng góp tích cực của ông vào sự phát triển của đất nước, đặc biệt là vùng đất phương Nam, gắn liền với thời gian hai lần giữ chức Tổng trấn thành Gia Định (1813 - 1816; 1820 - 1832). Được các vua Gia Long và Minh Mạng giao quyền hành rộng lớn ở Gia Định và Nam Kỳ, Lê Văn Duyệt tỏ ra là một nhà cai trị xuất sắc, thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế, đoàn kết các thành phần dân cư, dân tộc, tôn giáo, bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, chống tham nhũng, lạm quyền trong bộ máy quan lại… Nhiều quyết sách của ông ở Gia Định, đặc biệt là về giao thương, đối ngoại (với Cao Miên, Xiêm La và phương Tây) thể hiện tầm nhìn cởi mở, tiến bộ và có phần mâu thuẫn với chính sách "bế quan toả cảng", kỳ thị tôn giáo của triều đình Minh Mạng. Sau khi ông mất (1832), vua Minh Mạng và đình thần vin cớ Lê Văn Khôi (con nuôi và là thuộc tướng của Lê Văn Duyệt) nổi loạn ở thành Phiên An (1832 - 1835), ghép tội ông rất nặng, mãi đến năm Tự Đức thứ nhất (1848) mới được minh oan.

- Phạm Văn Đồng (1906 - 2000): Phạm Văn Đồng bí danh là Tô, sinh ngày 1.3.1906 tại làng Thi Phổ Nhất, nay thuộc xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi; là nhà hoạt động chính trị, nhà văn hóa lớn của Việt Nam.

Ông là học trò, cộng sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976 và Thủ tướng của nước Việt Nam thống nhất từ năm 1976 (từ năm 1981 gọi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) cho đến khi nghỉ hưu năm 1987. Ngày 21.8.1998, Thủ tướng Phan Văn Khải ký quyết định số 746/QĐ - TTg bổ nhiệm ông làm Chủ tịch danh dự Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng của Việt Nam và nhiều huân chương khác của Liên Xô, Lào, Campuchia, Cuba, Bulgaria, Ba Lan và Mông Cổ. Ông mất tại Hà Nội ngày 29.4.2000, hưởng thọ 94 tuổi.

2.2.2. Danh nhân văn hóa

Quảng Ngãi còn là quê hương của nhiều nhà trí thức, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ tên tuổi như: Bích Khê, Tế Hanh, NSND Trà Giang, Trương Quang Lục, Thế Bảo, Nhất Sinh...

- Tế Hanh: Tên thật là Trần Phố, quê ở vạn Đông Yên, xã Bình Dương (trước 1975 là xã Bình Thủy), huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Cha ông là Trần Tất Tố. Ông có bốn anh em, trong đó người em út là nhạc sĩ Trần Thế Bảo. Thuở nhỏ học trường làng, trường huyện sau ra học tại trường Quốc Học Huế. Ông sáng tác thơ từ sớm và đã đứng trong phong trào Thơ mới với tập Nghẹn ngào giành giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn. Tham gia Việt Minh từ tháng 8.1945, Tế Hanh đã trải qua các công tác văn hóa, giáo dục ở Huế, Đà Nẵng, là Ủy viên giáo dục trong Ủy ban lâm thời thành phố Đà Nẵng sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Năm 1947, ông làm việc trong Ban phụ trách Trường trung học bình dân Trung bộ, năm 1948, ông ở trong Ban phụ trách liên đoàn văn hóa kháng chiến Nam Trung bộ ủy viên thường vụ chi hội Văn nghệ Liên khu V. Năm 1957, khi thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, ông là Ủy viên thường vụ Hội khoá I và khóa II, Ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam (1963), tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nhiều khóa, giữ các chức vụ: Trưởng ban đối ngoại (1968), Chủ tịch Hội đồng dịch thuật (1983), Chủ tịch Hội đồng thơ (1986).

Ngoài thơ, Tế Hanh còn dịch nhiều tác phẩm của các nhà thơ lớn trên thế giới, viết tiểu luận phê bình văn học, thơ thiếu nhi. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. Vào những năm 80, ông bị đau mắt và mắt ông mù dần. Ông qua đời vào 16.07.2009.

- Trương Quang Lục: Ông sinh ngày 25.2.1933, quê tại xã Tịnh Khê, nay là xã Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, đồng thời là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, Trương Quang Lục đã có một số bài hát được phổ biến như: Chuyến tàu trăng, Bảo vệ hòa bình, Đố cờ, Hoa bên suối… Sau hòa bình, ông chuyển ra miền Bắc vừa làm kỹ sư hóa chất ở nhà máy Super - Phosphate Lâm Thao, ông vừa sáng tác ca khúc và nhiều tác phẩm ra đời ở đó.

- NSND Trà Giang: Bà sinh năm 1942 tại Quảng Ngãi, là một diễn viên điện ảnh Việt Nam nổi tiếng. Bộ phim đầu tiên bà tham gia là phim Một ngày đầu thu (đạo diễn Huy Vân), và bộ phim cuối cùng là Dòng sông hoa trắng (đạo diễn Trần Phương). Trà Giang cũng tham gia nhiều bộ phim nổi tiếng và đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế như: Chị Tư Hậu (huy chương bạc Liên hoan Phim Quốc tế Moskva năm 1963), Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (đoạt giải diễn viên nữ xuất sắc nhất tại Liên hoan Phim Quốc tế Moskva năm 1973). Trà Giang còn là đại biểu Quốc hội các khóa V, VI và VII.

2.3. Di sản văn hóa 

2.3.1. Văn hóa vật thể

Quảng Ngãi là vùng đất có bề dày lịch sử với những nền văn hóa lâu đời như văn hóa Sa Huỳnh, có nhiều di tích LSVH cổ xưa như: thành cổ Châu Sa, di tích Gò Vàng…; có nhiều danh thắng như: Thiên Ấn, Niêm Hà, Thiên Bút, Phê Vân, Thạch Bích, Tà Dương, Cổ Lũy cô thôn, Nước Trong - Ca Đam…

a. Di tích LSVH

- Di tích Giếng Tiền: Đầu năm 2006, một số nhà khảo cổ học đã tình cờ phát hiện trên bậc thềm cổ của miệng núi lửa Giếng Tiền ở phía bắc đảo Lý Sơn có các công cụ đồ đá cũ. Các di vật thu nhặt gồm rìu tay, hòn ghè, hòn ném, bàn mài, vòng trang sức, đặc biệt có rất nhiều mảnh tước bị tách ra trong quá trình chế tác công cụ. Bước đầu các nhà khảo cổ học đã xác định đây là di tích cư trú và cũng là xưởng chế tác đá của cư dân ở sơ kỳ thời đại đá cũ, cách nay khoảng 30 vạn năm. Di tích Giếng Tiền có niên đại tương đương với di tích đá cũ ở Núi Đọ (Thanh Hoá). Đây là di tích đá cũ đầu tiên được phát hiện ở Quảng Ngãi cũng như ở miền Trung Việt Nam.

- Di tích Trà Phong: Là di tích được phát hiện và khai quật năm 2001. Địa điểm khai quật nằm bên triền đồi thung lũng sông Nước Niêu thuộc xã Trà Phong, huyện Tây Trà. Tầng văn hóa dày trung bình 0,65m, trong đó chứa các di vật như phác vật rìu, rìu vai, bàn mài, cuộn lăn gốm cùng rất ít mảnh gốm thô đỏ. Đặc trưng công cụ di tích Trà Phong khá gần gũi với văn hóa Biển Hồ (Tây Nguyên) ở loại hình rìu có vai chế tác từ đá lửa rất cứng, hình dáng đốc dài, lưỡi xòe, vai ngang, thân hình cong lồi thấu kính, rìa lưỡi mài sắc. Loại bàn mài nhiều mặt cũng chế tác từ đá lửa, loại cuội lăn gốm có nguồn gốc từ sông suối và một khối đá nguyên liệu bằng ngọc thạch. Di tích Trà Phong thuộc thời đại đá mới ở giai đoạn hậu kỳ đã chớm qua sơ kỳ kim khí, có niên đại cách đây trên dưới 4.000 năm.

- Suối Chình: Di tích Suối Chình nằm trên cồn cát cạnh biển, phía đông đảo Lý Sơn, thuộc xã An Hải, được phát hiện và khai quật năm 2000. Di tích Suối Chình có nguồn gốc phát triển từ giai đoạn muộn của Xóm Ốc. Di tích Suối Chình là nơi cư trú của cư dân văn hóa Sa Huỳnh, đồng thời trong tầng văn hóa có xen lẫn mộ táng. Tầng văn hóa Suối Chình có cấu tạo đất đỏ pha cát biển, gốm xen lẫn vỏ nhuyễn thể (do con người cư trú ăn bỏ lại). Trong tầng văn hóa có chứa mộ nồi chôn úp nhau theo chiều thẳng đứng, đồ tuỳ táng được đặt bên trong hoặc bên ngoài. Bên trong các mộ nồi đều có di cốt trẻ em. Đặc trưng di vật đồ đá gồm có rìu, mai, cuốc, bàn mài…; đồ sắt có dao, kiếm; đồ trang sức bằng đá quý, thủy tinh như khuyên tai ba mấu, hạt chuỗi, đặc biệt có đồ trang sức hạt chuỗi, vòng đeo, được chế tác theo cách khoan mài tinh vi từ lõi tridacna và các loại ốc, sò; đồ gốm có các loại nồi, bát. Niên đại Suối Chình ở vào khoảng đầu Công nguyên.

- Di tích Cổ Lũy - Phú Thọ: Di tích được đào thám sát vào năm 1998, đến năm 2004 khai quật. Đây là di tích Văn hóa Champa có niên đại từ thế kỷ III đến thế kỷ VII sau Công nguyên. Trong hố khai quật hiện rõ các chân móng cột nhà rất lớn có gia hạ bằng gạch vỡ và đá cuội. Tầng văn hóa sâu trên 2m có rất nhiều gốm cư trú. Hiện vật tìm thấy trong hố khai quật bao gồm các vật liệu kiến trúc như ngói lòng máng, gạch, chóp nóc... Đồ gia dụng gồm nồi, hũ kendi, chân đèn, bát... Các vật liệu kiến trúc dạng ngói lòng máng, đầu ngói ống trang trí mặt hề, chóp búp sen... của di tích Cổ Lũy - Phú Thọ giống với vật liệu tương tự ở Trà Kiệu (Quảng Nam), Thành Hồ (Phú Yên). Di tích Cổ Lũy - Phú Thọ chứng minh cho một trung tâm chính trị của tiểu quốc cổ tiền Champa, có vị trí rất thuận lợi là nằm ở vùng ngã ba sông, gắn với cửa Đại để đi ra biển. Nhờ vậy tiểu quốc này có thể rất phát triển về kinh tế nhờ giao thương mạnh với bên ngoài, và minh chứng cho điều đó là ở đây còn tìm thấy gốm in ô vuông thời Đông Hán và mảnh cà ràng (bếp đất sét) của văn hóa Óc Eo... Trong khu di tích có phế tháp Hòn Yàng. Nơi đây tìm thấy bệ thờ Vihsnu đản sinh Brahman, niên đại thế kỷ VIII. Trên thành Bàn Cờ cũng còn lại phế tích gạch. Cấm Bầm Buông có đá phát tiếng kêu như chuông trống khi gõ vào. Luỹ đất nằm ở phía đông đã bị phá nhiều đoạn.

- Di tích Thành Châu Sa: Di tích thành Châu Sa là di sản kiến trúc của văn hóa Champa, người Việt sử dụng lại để làm lỵ sở Tam ty thời Lê Thánh Tông năm 1472. Thành Châu Sa là thành đắp đất có quy mô lớn. Khu vực thành bao gồm các xã: Tịnh Châu, Tịnh An, Tịnh Thiện, Tịnh Khê thuộc huyện Sơn Tịnh. Thành Châu Sa gồm 2 vòng thành: thành nội và thành ngoại. Thành nội là khu trung tâm với hai "càng cua" bên ngoài, chạy theo hướng bắc - nam và đông - tây. Thành ngoại chạy theo hướng bắc - nam gồm 2 cạnh thành đông - tây - bắc. Thành Châu Sa có một hệ thống đường thủy nối liền hào thành với sông Trà Khúc rất thuận lợi cho thuyền bè đi lại. Niên đại xây dựng thành Châu Sa khoảng thế kỷ VIII - IX, khi mà vua Indravarman II lập kinh đô Indrapura với việc đánh dấu cho một triều đại mới mà quyền lực từ phương Nam vùng Panduranga chuyển về phương Bắc vùng Amaravati. Bờ thành Châu Sa cao trên 4m, mặt thành rộng trung bình 5m, đáy thành rộng trên 25m, hào thành có đường nước rộng khoảng 40m. Thành Châu Sa là toà thành đắp đất có quy mô lớn và còn nguyên vẹn nhất so với các tòa thành Champa khác ở miền Trung Việt Nam.

- Trường Lũy: Di tích Trường Lũy là một lũy thành bằng đất đá dài 127,4 km được xây dựng từ giữa thế kỷ XVI. Đây là trường lũy cổ xưa nhất Đông Nam Á, có giá trị đặc biệt về văn hóa, lịch sử và kiến trúc. Di tích này đã được công nhận là di tích cấp quốc gia và hiện đang được xem xét đề xuất công nhận là di sản thế giới.

- Nhà lưu niệm Phạm Văn Đồng: Tọa lạc ở thôn 2, xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, nằm gần quốc lộ 1A, bên dòng sông và đồng ruộng xanh tươi, là nơi trưng bày hình ảnh, hiện vật về cuộc đời và sự nghiệp cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngay tại quê hương. Trước kia, ở đây có ngôi nhà cũ được xây dựng vào những năm cuối thế kỷ XIX, là nhà lá mái (nhà đắp) có 3 gian 2 chái. Năm 1972, nhà bị trúng pháo đổ nát. Năm 1978, chính quyền địa phương xây dựng lại ngôi nhà trên khu vườn cũ trước đây của gia đình để làm lưu niệm. Nhà lưu niệm Phạm Văn Đồng vách gạch, mái lợp ngói, nội thất chia làm 3 gian. Gian giữa bên trái thờ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, gian thờ bên phải thờ song thân là ông Phạm Văn Nga và bà Nguyễn Thị Thuần cùng các anh chị em ruột. Hiện nay, tại đây một khu lưu niệm rộng rãi, quy mô đang được đầu tư xây dựng. Di tích đã được công nhận là di tích LSVH quốc gia vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

b. Danh thắng

- Núi Thiên Ấn: Núi Thiên Ấn nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, phía đông huyện lỵ Sơn Tịnh và phía bắc tỉnh lỵ Quảng Ngãi, trên địa phận xã Tịnh An, huyện Sơn Tịnh. Núi cao 106m, bốn mặt núi có hình thang cân, nhìn từ xa trông như một ấn trời đóng trên dòng sông Trà nên cổ nhân gọi là Thiên Ấn niêm hà (ấn trời đóng trên sông). Người dân Quảng Ngãi xem núi là linh sơn của vùng đất này. Núi có nhiều cỏ tranh và cây cổ thụ. Trên núi đất bằng phẳng, có chùa Thiên Ấn là danh lam với quần thể tháp mộ các thiền sư cao tăng mang dáng uy nghi, trầm mặc. Phía tây nam đỉnh núi là nơi yên nghỉ của nhà chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng. Thiên Ấn niêm hà tượng trưng cho sĩ khí Quảng Ngãi.

- Núi Thiên Bút: Núi Thiên Bút nằm ở địa phận phường Nghĩa Chánh, thành phố Quảng Ngãi, cao 60m, hình chóp nón, trên núi có nhiều cây, trông xa tựa như ngọn bút lông chỉ lên trời. Về phía đông núi có hòn Nghiên tựa như nghiên mực. Vào buổi chiều tà có dải mây thấp thoáng in bóng đàn nhạn bay qua đỉnh núi, người xưa thường bảo ấy là lúc Thiên bút phê vân (bút trời viết lên mây). Núi tượng trưng cho văn khí của Quảng Ngãi. Hiện nay trên đỉnh núi còn dấu tích một đền tháp Chăm cổ.

- Cổ Lũy cô thôn: Cổ Lũy cô thôn nằm ở địa phận xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa. Bên trong có núi Phú Thọ (còn có tên là núi Đá Đen hay Thạch Sơn), cao 60m, rộng chừng 8ha, trên núi còn dấu vết đồn lũy, thành quách Chămpa. Núi có chùa Hang với huyền tích con cọp thần. Đứng trên đỉnh núi có thể phóng tầm mắt bao quát trông về dòng sông Trà hùng vĩ, cửa Đại nên thơ, rừng dừa xanh Cổ Luỹ, đảo Lý Sơn thấp thoáng trong khói sóng biển xanh, phía tây là đồng bằng Quảng Ngãi xanh tít tắp. Thôn Cổ Lũy như cắt khỏi đất liền. Tương truyền, Nguyễn Cư Trinh khi đứng trên núi trông về xóm Mồ Côi của những người dân chài đơn độc bên cửa Đại, đã gọi là Cổ Lũy cô thôn (thôn Cổ Lũy cô quạnh).

- Bãi biển Sa Huỳnh: Nằm ở cực nam tỉnh Quảng Ngãi, thuộc địa phận các xã Phổ Thạnh, Phổ Châu, huyện Đức Phổ, cách tỉnh lỵ Quảng Ngãi 60km về hướng nam. Sa Huỳnh không chỉ là nơi chứa đựng các di tích khảo cổ học mà còn nổi tiếng với vẻ đẹp thơ mộng. Dọc theo bờ biển Sa Huỳnh là dãy Trường Sơn chạy áp sát bờ biển, có nơi đâm thẳng ra biển tạo nên những ghềnh đá rất đẹp. Bãi biển có núi đá nằm cạnh biển, trên núi nay vẫn còn nhiều khỉ. Bờ biển Sa Huỳnh sạch sẽ, thoáng đãng, là nơi dừng chân lý tưởng cho du khách đến tham quan và khám phá vẻ đẹp của vùng đất này.

- Bãi biển Mỹ Khê: Du khách đặt chân đến Quảng Ngãi đều nghe đến tên một bãi biển đẹp nằm cách cầu Trà Khúc 15km về hướng đông trên quốc lộ 24B, với tên gọi bãi biển Mỹ Khê, thuộc thôn Cổ Lũy, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Bãi biển nổi tiếng đẹp và sạch với hình cong lưỡi liềm, nước biển xanh ngát, bãi cát vàng phau, bên cạnh là rừng phi lao rì rào quanh năm. Khu vực bãi biển Mỹ Khê hiện đang được xây dựng thành khu du lịch sinh thái biển.

- Cửa biển Sa Cần: Sa Cần là cửa biển nơi con sông Trà Bồng đổ ra biển Đông, nằm ở phía đông bắc huyện Bình Sơn, cách thị trấn Châu Ổ 17km, giữa hai xã Bình Đông và Bình Thạnh. Cửa Sa Cần còn gọi là Thái Cần, Thể Cần, Sơn Trà, rộng khoảng 200m, có độ sâu khoảng 4 - 6m nước. Ở đây, có hai núi đá lớn nhô cao trên mặt nước, có màu xám đen, thường gọi là Hòn Ông, Hòn Bà. Hòn Ông nằm về phía biển, bên ngoài nước sâu, rộng thoáng. Hòn Bà nằm về phía trong, cách cửa biển khoảng 500m, tạo cho cảnh quan thêm thơ mộng.

- Thác Trắng: Thác nằm ở xã Thanh An, huyện Minh Long. Từ độ cao 40m, một dòng nước bạc tuôn trào như suối tóc của một nàng tiên buông xõa theo ghềnh đá gọi là Thác Trắng. Thác đã tạo nên hai hồ nước thiên nhiên dưới chân, mỗi hồ rộng 100m2 nước xanh biếc. Đến với Thác Trắng, du khách sẽ được đắm mình trong vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ, được nghe chim hót, vượn kêu trong rừng, được thỏa thích vùng vẫy dưới hồ nước trong xanh.

- Quần thể thắng cảnh trên đảo Lý Sơn: Trên đảo Lý Sơn có nhiều thắng cảnh đẹp còn nguyên sơ, phân bố ven bờ biển đảo Lớn và đảo Bé. Đó là các thắng cảnh hang Tò Vò, hang Kẻ Cướp, hang Câu, hang Cò…

+ Hang Tò Vò nằm ở phía bắc đảo Lớn, thuộc xã An Vĩnh. Đây là khối đá có nguồn gốc núi lửa, do cơ duyên thiên tạo ở giai đoạn biển tiến, nước biển thâm nhập đã tạo nên vòm.

+ Hang Kẻ Cướp nằm ở xã An Bình (đảo Bé). Nguồn gốc tên hang liên quan đến lịch sử hình thành đảo Lý Sơn, là nơi ẩn nấp của nhóm hải tặc tung hoành trên biển thời xa xưa. Hang rất hiểm trở, muốn vào được hang thì người ta phải lặn xuống nước mới vào được.

+ Hang Cò nằm ở bờ biển phía nam đảo Lớn, thuộc xã An Hải. Tên gọi hang Cò bắt nguồn từ loài chim nhàn có thân hình màu trắng giống chim cò thường hay đậu nơi đây. Hang Cò cũng là khối đá tự nhiên có nguồn gốc núi lửa thành tạo nên.

+ Hang Câu nằm ở thôn Đông, xã An Hải, dưới chân núi Thới Lới. Nơi đây sóng biển quanh năm vỗ vào ghềnh đá được tạo thành từ nham thạch, cao hàng trăm mét, trông rất nên thơ và hùng vĩ. Có lẽ đây là nơi người Lý Sơn hay câu cá, hoặc cũng có thể là nơi có nhiều rau câu, nên gọi là hang Câu.

Ngoài ra, trên đảo Lý Sơn còn một số thắng cảnh khác như núi Giếng Tiền, núi Thới Lới, hòn Bàn Than, hòn Mù Cu…

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa

2.3.2. Văn hóa phi vật thể

Ngoài các di tích, danh lam thắng cảnh, Quảng Ngãi còn có những di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc.

a. Phong tục tập quán

- Thờ cúng cá Ông: Thờ cúng cá Ông là một hình thức thờ cúng cá voi và các thủy thần trên biển, do ngư dân các làng, vạn ven biển hàng năm lo việc tế tự vào xuân thu nhị kỳ. Để tri ân cá Ông cứu mạng, các ngư dân tôn vinh Ông thành thần, các triều đại nhà Nguyễn thường ban các sắc phong thần với nhiều tước vị cho Ông và chuẩn cho nhân dân các làng ven biển phụng thờ. Ngoài việc cúng tế, hàng năm tại lăng Ông còn tổ chức hát bả trạo, múa gươm, diễn các trò diễn dân gian như đua thuyền, lắc thúng…

- Thờ cúng nữ thần: Ở Quảng Ngãi hiện nay còn hàng trăm điểm thờ cúng các nữ thần, như: Thiên Y A Na, Ngũ Hành, Thủy Long, Tứ Vị Thánh Nương, Cửu Thiên Huyền Nữ, U Linh Xạ Nữ vương, Bà Chúa Yàng, Bà Chúa Ngọc, Linh Sơn Thánh Mẫu, Tây Vương Mẫu…, nhiều nhất là thờ Thiên Y A Na (ở nhiều nơi, phổ biến là ở ven biển) và Ngũ Hành (thường thờ ở những nơi có làng nghề, buôn bán). Ở Lý Sơn còn có thờ Bà Roi, tên chữ là Phạm Tiên Điều. Nhiều dinh thờ nữ thần còn lưu giữ gần như nguyên vẹn được các cấu kiện kiến trúc, các hoa văn họa tiết được chạm khắc công phu từ hàng vài trăm năm trước, như dinh Thiên Y A Na ở xóm Trung Yên (An Hải, Lý Sơn), điện Trường Bà (An Hải, Trà Bồng), dinh Bà ở thôn Yên Phú (Nghĩa Phú, Tư Nghĩa,) … Việc tế tự các nữ thần ở các nơi đều theo nghi thức cũ (được quy định trong hương ước), các vật phẩm hiến tế tùy theo mùa và tùy theo điều kiện. Tiêu biểu cho những điểm thờ tự này là dinh Thiên Y A Na ở xóm Trung Yên, dinh Bà Roi (An Hải, Lý Sơn), dinh Bà Yên Phú (Nghĩa Phú, Tư Nghĩa), dinh Thiên Y và Thủy Long ở bên cạnh cửa biển Sa Huỳnh (Đức Phổ), dinh Thiên Y và dinh Ngũ Hành ở Thanh An và Yên Phú (Nghĩa Phú, Tư Nghĩa), miếu Bà Kỳ Tân (Mộ Đức)... Một số dinh, miếu thờ nữ thần còn giữ các thần sắc do các triều vua nhà Nguyễn ban tặng.

- Thờ âm hồn: Ở Quảng Ngãi hiện còn hàng trăm nghĩa tự, hầu như mỗi làng xóm đều có một nghĩa tự. Đây là nơi thờ những người chết bất đắc kỳ tử, chết sông, chết biển, chết đường, chết chợ... không người hương khói. Nghĩa tự thường có kiến trúc lộ thiên, gồm có ban chánh, hai ban tả ban và hữu ban, ban hội đồng, ban thờ Tiêu Diện (vị thần cai quản âm hồn). Một số nghĩa tự như nghĩa tự Thạch Bi, nghĩa tự An Vĩnh sau này còn lợp mái, xây tường để tiện cúng tế. Cạnh nghĩa tự có trồng một cây gạo, cây đa (thần cây đa, ma cây gạo). Hàng năm vào dịp tháng Hai âm lịch, dịp Thanh minh, các làng tổ chức lễ tế âm hồn. Tùy theo điều kiện của làng mà có thể cúng hương hoa trà quả hay tế heo, bò... Hiện nay, nhiều gia đình vẫn còn giữ tục thờ cúng âm hồn vào các ngày sóc, vọng, lễ tết. Khi cúng người ta lập dàn thờ trước sân, trước hè. Có nhà còn dựng sẵn trang thờ âm hồn trước sân.

Ngoài ra cộng đồng các dân tộc thiểu số nơi đây cũng có những phong tục, tập quán hết sức độc đáo như cúng gọi hồn, cúng nước mạch, cúng lúa mới, cúng tổ tiên của người Hre, lễ ngã rạ của người Cor, lễ cúng thần lúa của người Cadong…

b. Lễ hội

Hiện nay, tại các làng quê người Việt ở Quảng Ngãi còn giữ nhiều loại hình lễ hội cổ truyền, đặc biệt là ở các vùng ven biển. Tiêu biểu có: lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở đảo Lý Sơn, lễ hội cầu ngư, lễ hội ra quân đánh bắt hải sản ở Sa Huỳnh (Đức Phổ), lễ hội đua thuyền ở Lý Sơn (Lý Sơn), Tịnh Long, Bình Châu (Bình Sơn), lễ hội đền Trường Bà (Trà Bồng), lễ hội đâm trâu của các dân tộc Cor, H’re, Cadong ở các huyện miền núi như Trà Bồng, Sơn Hà…, lễ tế cá Ông và hát múa bả trạo ở Bình Chánh (Bình Sơn)…

- Lễ cúng cá Ông: Hầu hết các làng xã dọc theo ven biển Quảng Ngãi đều có lăng (hoặc miếu) thờ Cá Ông. Ở những vạn chài có đông đảo cư dân làm nghề đánh cá thì thường mỗi vạn có một lăng Ông. Lăng Ông là nơi thờ Cá Ông, tức cá voi, được ngư dân gọi bằng nhiều danh xưng như: Nam Hải Cự tộc Ngọc lân thượng đẳng thần, Nam Hải Đại tướng quân, Đức Ngư Ông, Ông Lộng, Ông Sanh... Trong mỗi lăng Ông còn thờ các thủy thần khác, các vị tiền hiền, hậu hiền, những người chết sông, chết biển...

Hàng năm, ngư dân tổ chức lễ hội tế cá Ông 2 lần vào mùa xuân và mùa thu (xuân thu nhị kỳ). Kỳ xuân vào tháng Giêng hoặc tháng Hai, kỳ thu vào tháng Bảy hoặc tháng Tám âm lịch. Thông thường vào dịp tế thu, ngư dân làm lễ tế lớn hơn kỳ xuân, vì đây là dịp họ đền ơn Đức Ngư Ông đã phù hộ cho họ sau một mùa lênh đênh trên biển, có đông đảo các thành viên trong làng, vạn và các vạn chài lân cận cùng tham gia.

Hiện nay, nhiều nơi trong tỉnh hàng năm còn tổ chức lễ hội cúng cá Ông, nhưng tiêu biểu nhất là lễ hội cúng cá Ông của các vạn chài: Cù Lao - Mỹ Tân, Đông Yên (Bình Sơn), Thạch Bi (Sa Huỳnh, Đức Phổ), lăng Chánh, lăng Thứ, lăng Tân (Lý Sơn), lăng Cổ Luỹ Nam (Nghĩa Phú, Tư Nghĩa). Nhiều lăng Cá Ông ở Quảng Ngãi hiện còn giữ khá nguyên vẻ đẹp kiến trúc cổ cách đây vài trăm năm trước, như lăng Cồn (Lý Sơn), lăng Đông Yên, lăng Mỹ Huệ, lăng Cù Lao, lăng Thanh Thủy (Bình Sơn), lăng An Chuẩn (Mộ Đức). Lăng Ông lớn nhất là lăng Thạch Bi (Sa Huỳnh, Đức Phổ, được tôn tạo năm 2002). Lăng còn giữ được sắc phong thần (từ triều Minh Mạng đến triều Khải Định) là lăng Thanh Thủy (6 đạo), lăng An Chuẩn (4 đạo), lăng Cổ Lũy Nam (1 đạo) (7)...

- Lễ hội cầu ngư: Thực chất cũng là lễ hội gắn liền với lễ hội cúng cá Ông. Cư dân ven biển làm lễ cầu ngư vào dịp đầu năm mới với ý nghĩa cầu mong cho mùa màng bội thu, yên bình trong cả năm lênh đênh trên biển cả. Đây là lễ thức có khi chỉ riêng của cá nhân, gia đình, và có khi là của cả cộng đồng. Có nơi gọi lễ cầu ngư là lễ ra nghề, hay lễ xuống nghề. Tiêu biểu cho lễ cầu ngư của cư dân ven biển Quảng Ngãi là lễ cầu ngư Sa Huỳnh, mà nay có một tên gọi mới là "Lễ ra quân đánh bắt thủy sản Sa Huỳnh", hoặc có năm gọi là "Lễ ra quân nghề cá". Tên gọi này ít nhiều mang dáng vẻ "hành chính", bởi cốt lõi của nó là lễ cầu ngư, nhưng đã có sự tham gia của chính quyền trong việc thực hành nghi lễ.

Những làng xã thường tổ chức lễ cầu ngư hàng năm và có quy mô lớn là Sa Huỳnh, An Chuẩn, Cổ Lũy, nhưng tiêu biểu nhất là ở Sa Huỳnh. Có nơi không tổ chức lễ cầu ngư riêng mà người ta xem lễ tế cá Ông vào dịp đầu năm là lễ cầu ngư.

- Lễ hội thờ Bà/Mẫu: Hiện nay ở Quảng Ngãi còn hàng trăm dinh, miếu thờ Mẫu, thờ nữ thần, như: Thiên Y A Na, Ngũ Hành, Thủy Long, Cửu Thiên Huyền Nữ, Tứ vị Thánh Nương... Ngoài ra, ở Lý Sơn còn có thờ bà Phạm Tiên Điều (tức bà Roi). Người Quảng Ngãi gọi chung cho tất cả các Mẫu, các nữ thần đều là Bà. Tiêu biểu cho những điểm thờ Bà là dinh thờ Thiên Y A Na ở xóm Trung Yên (An Hải, Lý Sơn), đặc biệt là ở điện Trường Bà ở Trà Xuân (Trà Bồng).

Hàng năm vào ngày 15 và 16.4 âm lịch, người dân ở thị trấn Trà Bồng, gồm người Việt, người Cor (trước đây còn có người Hoa), cùng tổ chức lễ hội tại điện Trường Bà. Việc tế tự chủ yếu theo các lễ, bao gồm: lễ yết, chánh tế… theo các bước từ sơ hiến, á hiến, chung hiến. Đặc biệt, vào thời khắc giao điểm giữa ngày 15 và ngày 16 (nửa đêm), người dân nơi đây bày soạn các lễ vật, gồm bò, heo, và những vật phẩm khác để cúng ngoài sân điện. Các bàn lễ vật này hướng về phía núi, với những lời khấn cầu tỏ lòng tri ân các vị thiên thần, nhiên thần, các âm binh, âm hồn... Lễ tế đó gọi là lễ ngoại đàn, là một lễ thức vốn được quy định trong các hương ước xưa ở các làng xã mà nay nhiều nơi đã mất. Tuy nhiên, lễ ngoại đàn tại điện Trường Bà có quy mô to lớn hơn những nơi khác, mang thêm một sắc thái mới, với việc tri ân những người khai mở đất đai, sông núi trên vùng đất này. Hiện nay, do điều kiện kinh phí, lễ hội điện Trường Bà chỉ tổ chức với quy mô hai năm một lần.

- Lễ hội đua thuyền: Vào các dịp lễ tết, nhiều nơi dọc ven sông biển ở Quảng Ngãi thường tổ chức hội đua thuyền. Ở huyện Tư Nghĩa, hội đua thuyền thường diễn ra trên sông Cổ Lũy - Phú Thọ. Ở huyện Bình Sơn, hội đua thuyền thường diễn ra ở vịnh Vũng Tàu, cửa Sa Cần, trên sông Trà Bồng. Ở huyện Sơn Tịnh, hội đua thuyền thường diễn ra trên sông Trà Khúc. Ở huyện Nghĩa Hành, tổ chức đua thuyền trên sông Vệ… Ở huyện đảo Lý Sơn, hội đua thuyền thường được tổ chức ở vùng biển phía tây nam của đảo. Tiêu biểu có các hội đua thuyền truyền thống ở hai làng An Hải, An Vĩnh (Lý Sơn) và Tịnh Long (Sơn Tịnh) vào dịp Tết Nguyên đán hàng năm.

- Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa: Được nhân dân huyện đảo Lý Sơn duy trì hàng trăm năm nay. Thời gian đầu khi mới thành lập Đội Hoàng Sa, cứ hàng năm người của đảo Lý Sơn lại được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác và bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa. Việc này gọi là "thế lính". Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là một lễ hội độc đáo với truyền thống uống nước nhớ nguồn nhằm ghi nhớ công ơn người xưa hay nhóm An Vĩnh thuộc hải đội Hoàng Sa đã ra đi tìm kiếm sản vật và cắm mốc biên giới hải phận mà không trở về.

Lễ hội được tổ chức tại Âm Linh Tự, vào các ngày 18, 19, 20 tháng 4 âm lịch hàng năm. Đây là lễ hội lớn không chỉ của huyện mà còn của cả tỉnh Quảng Ngãi. Với hình thức tổ chức rất công phu nhiều công đoạn, song đặc biệt hơn cả là hình thức thả thuyền giấy ra biển ngụ ý mãi duy trì việc ra biển như trước và có lẽ vì thế mà lễ hội có tên là khao lề thế lính. Vào những ngày này, ngoài việc tổ chức người địa phương còn thực hiện đắp và dọn các ngôi mộ của các chiến sĩ hải đội Hoàng Sa (dân nơi đây gọi là mộ gió).

Lễ hội này không chỉ mang ý nghĩa phục vụ công tác nghiên cứu văn hóa cộng đồng cư dân ven biển Việt Nam, du lịch mà còn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, truyền thống gìn giữ và bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải của đất nước.

- Lễ hội ăn trâu của người Hre: có tên gọi là ka kapơ (kapô), thường được tổ chức vào tháng 3, tháng 4 âm lịch, khi lúa rẫy lẫn lúa nước đã thu hoạch xong. Trong khoảng thời gian này, tùy thuộc vào điều kiện của gia đình và quẻ bói của thầy cúng mà mỗi gia đình tự chọn ngày tổ chức lễ ăn trâu riêng của gia đình mình. Lễ ăn trâu của gia đình chủ yếu được tổ chức tại không gian quanh ngôi nhà sàn của gia đình (khác với lễ ăn trâu của plây được tổ chức tại một địa điểm thiêng của plây, thường là nơi đầu đường vào rừng, vào rẫy). Mục đích của lễ hội ăn trâu của người Hre là nhằm tạ ơn thần linh, thực hiện lời nguyền với thần linh về một việc gì đã được toại nguyện, và đồng thời cũng để chiêu đãi họ hàng, chứng tỏ cho cộng đồng biết là gia đình đã khá giả, no đủ.

- Lễ hội ăn trâu của người Cor có tên gọi là xá kapiêu (= ăn; kapiêu = trâu), thường diễn ra vào tháng 3, tháng 4 âm lịch. Cũng như người Hre, thời gian chính thức diễn ra lễ ăn trâu, ngoài sự chuẩn bị của gia đình còn tùy thuộc vào quẻ bói của thầy cúng. Về mục đích, ý nghĩa, các loại lễ vật, cách chọn lựa con trâu hiến tế..., thì lễ hội ăn trâu của người Cor tương tự như lễ hội ăn trâu của người Hre. Riêng trong trình tự lễ hội, thì lễ hội ăn trâu của người Cor có nhiều khác biệt so với lễ hội ăn trâu của người Hre. Nếu như người Hre chỉ cần thời gian khoảng một hai ngày là có thể làm và dựng xong cây nêu thì người Cor phải mất hàng tháng trời để làm cây nêu và các gu vla, gu tum với hơn vài trăm công làm. Cây nêu dùng trong lễ ăn trâu của người Cor không phải bằng tre mà bằng gỗ, cao đến 14 - 15m, có nhiều hoa văn họa tiết tinh tế.

- Lễ hội ăn trâu của người Ca Dong: Cũng giống như người Hre, tên gọi lễ hội ăn trâu của người Ca Dong là ká kapơ (kapô). Lễ ăn trâu của người Ca Dong thường được tổ chức vào tháng 3 đến tháng 5 âm lịch, tức vào lúc thời gian bắt đầu vào mùa rẫy mới, và cũng là lúc trái riêng klung trong rừng đã chín (tựa như trái phượng, nhưng ruột có màu trắng ngà phơi khô giống như bông), là vật liệu không thể không có để làm cây nêu.

Mục đích, ý nghĩa, các loại lễ vật, trình tự... của một lễ hội ăn trâu của người Cadong cũng tương tự như lễ hội ăn trâu của người Hre, người Cor. Tuy nhiên, thời gian chuẩn bị của người Cadong không dài như người Cor, và cũng không ngắn như của người Hrê. Thời gian diễn ra lễ ăn trâu của người Cadong thường là 11 ngày, trong đó chính lễ diễn ra trong 2 ngày.

c. Nghề và làng nghề truyền thống

- Nghề đan lưới, đan rỗ lồng ở Thuận Phước: Thôn Thuận Phước, xã Bình Thuận nằm ở phía đông của huyện Bình Sơn, cách trung tâm huyện lỵ 15km về phía đông bắc. Đan lưới đan rổ lồng (hay rổ rỗi) là những nghề truyền thống ở Thuận Phước, trực tiếp phục vụ nghề đánh bắt cá của bà con. Gọi là rổ lồng vì hình thù của nó giống cái lồng khi được chồng lên nhiều cái. Còn rổ rỗi là theo từ “bạn rỗi” - nghề phụ trong thời gian rỗi của những cư dân vùng biển, những người không trực tiếp đánh bắt mà chỉ có nhiệm vụ chuyển tải hải sản cung cấp khắp miền xuôi, miền ngược. Rổ rỗi được dùng để hấp cá, mực thông dụng và thuận lợi nhất cho bạn rỗi.

Thuận Phước còn có một nghề truyền thống thứ hai, đó là nghề đan lưới. Xưa kia ông bà ta tự tìm nguyên vật liệu để quay xa, đan lưới thủ công. Ngày nay mọi thứ đều có sẵn để đan, từ lưới vây, lưới mực, lưới tôm, lưới ghẹ, lưới chuồn… và tùy theo loại lưới muốn đan, thì kích cỡ (cự) và cỡ lưới (sợi lưới nhỏ) cũng khác nhau. Ví dụ: lưới ghẹ, lưới mực (cự 12cm) cước 25mm, lưới chuồn (cự 1cm) cước 25mm… Với bản chất cần cù, chịu khó của người phụ nữ vùng biển, đan lưới là một nghề truyền thống, giải quyết được nhiều lao động khi nhàn rỗi, tăng thu nhập kinh tế gia đình.

- Nón là Chợ Đình: Chợ Đình thuộc xã Tịnh Bình, huyện Sơn Tịnh, nổi tiếng là nơi buôn bán khoai sắn và đặc biệt là nón lá. Gọi là nón lá chợ Đình vì những chiếc nón được chằm bởi những người phụ nữ khéo tay khắp các thôn của xã Tịnh Bình và vùng lân cận, đều được đưa về bán tập trung Ở chợ Đình, rồi từ đó chuyển đi các chợ trong và ngoài tỉnh.

Công cụ, nguyên liệu và các công đoạn chằm nón chợ Đình cũng giống như nón Nghệ, nón Huế hay nón Quảng. Nguyên liệu là tre để vót tuyến (tức là những khung tròn bên trong nón) và lá cây nón thu hái từ rừng núi phía tây. Công cụ là bộ kèo gồm 20 rẽ, chiếc rựa vót tre, bộ đồ ủi lá và chiếc kim khâu. Nếu như nón Huế thanh mảnh, điệu đàng thì nón chợ Đình nổi bật ở tính bền, chắc, chịu đựng nắng mưa. Sở dĩ như vậy là vì ở đây tre vót tuyến là loại “tre đất cát” sớ chắc và dai, khoảng cách mũi kim rất nhặt, lại thêm có bốn đố kiềm giữ bên trong, sòi ép cả ba tuyến đầu chóp nón bằng vảy đá. Còn giữ nghề chằm nón Chợ Đình hiện giờ chủ yếu là người cao tuổi và các em đang tuổi đi học.

- Nghề dệt chiếu cói: Thu Xà (Nghĩa Hòa, Tư Nghĩa) và Cổ Lũy (Tịnh Khê, Sơn Tịnh) là những làng nghề dệt chiếu cói nổi tiếng ở Quảng Ngãi. Các làng trên đều nằm ở hạ lưu sông Trà Khúc, sông Vệ, tiếp giáp với cửa Đại, cửa Lở, có nhiều đầm lầy nước lợ, chua phèn, thích hợp với cây cói, một loài thảo mộc thân thảo, mềm, xốp, khi thu hoạch cao khoảng 1m, là nguyên liệu chính để dệt chiếu.

Một nguyên liệu khác là cây tra hoặc cây đay. Đay cũng được trồng ở vùng đầm lầy nước lợ; còn tra lại được lấy từ vùng núi. Thợ dệt chiếu Nghĩa Hòa dùng sợi tra. Thợ Cổ Lũy thì dùng đay. Sợi đay và sợi tra dùng để xe thành những sợi dây trân, tức là khung dây chạy dọc để dệt mảnh chiếu.

Chiếu có nhiều sản phẩm đa dạng, gồm các loại chiếu đơn, mỏng, dệt đơn giản. Chiếu nhiều màu, dày, dệt công phu. Tấm chiếu khi nhuộm phải lựa chọn các màu sắc hài hòa. Chiếu nhiều màu thường dày, phải dệt bằng loại “khổ” khác. Chiếu đơn thường có kích thước bề ngang từ 8 tấc đến 1,2m, chiếu đôi từ 1,2m đến 1,6m. Hiện nay làng Thu Xà đã dệt được các loại chiếu dày, nhiều màu đẹp, tương đương với chiếu Nga Sơn (Thanh Hóa), bán đi ở thị trường các tỉnh miền Nam rất được ưa chuộng.

- Nghề làm bánh tráng ở Phú Châu: Thôn Phú Châu thuộc xã Hành Đức, huyện Nghĩa Hành. Cuối năm 2002 toàn thôn có 215 hộ, 940 nhân khẩu, chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, trồng lúa nước kết hợp với một số nghề thủ công như đan lát, chẻ đá, nề, mộc… Khoảng hơn chục năm trở lại đây, làm bánh tráng trở thành nghề phụ đáng chú ý mang lại thu nhập tương đối khá cho nhiều hộ gia đình trong thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của người dân.

- Nghề đan võng ở Đức Chánh: Từ rất lâu những chiếc võng được tạo tác từ bàn tay tài hoa, khéo léo của người Đức Chánh đã nổi tiếng khắp nhiều vùng trong và ngoài tỉnh. Một điều đáng nói ở đây: nghề đan võng không chỉ có ở Đức Chánh mà còn lan ra các xã, huyện lân cận. Nhiều cô gái Đức Chánh đi lấy chồng đã mang theo nghề truyền thống từ “quê mẹ” đến “nhà chàng”. Với phương châm “ly nông không ly hương”, ngoài việc Đức Chánh mở rộng một số ngành nghề khác, nghề đan võng cũng được duy trì và phát triển. Hiện nay, những chiếc võng Đức Chánh không những có mặt ở nhiều vùng miền trong cả nước, mà còn được các đại lý, các chủ vựa bán sang một số nước bạn như Lào, Campuchia, Thái Lan …

d. Ẩm thực

Về ẩm thực, Quảng Ngãi cũng là nơi có nhiều món ăn đặc sản. Nổi tiếng nhất là món don nấu canh, nấu cháo, hay xào với miến, bún, mì. Trên sông Trà Khúc có các loại cá bống như: cá bống thệ, cá bống dô, cá bống nhọn, cá bống mú, cá bống tượng, cá bống cằn và cá bống cát… để chế biến nên món cá bống sông Trà kho rim, vừa là món ăn với cơm, vừa là thứ hàng quà dành cho du khách mua về biếu tặng. Ngoài các loài cá bống, sông Trà còn có loài cá thài bai, thường được chế biến theo ba kiểu: hấp, chiên và ram, cũng là đặc sản ẩm thực của Quảng Ngãi. Vùng rừng núi phía tây thì có loài cá niêng, kẹp vào gắp tre tươi, nướng trên than hồng nhắm với rượu. Vùng đồng bằng có món bánh xèo, chim mía chiên dòn hay món bắp nếp nướng lừng danh. Ăn với cơm thì có mắm nhum ở Phổ Châu, từng được mệnh danh là “mắm tiến vua” hay món canh gà lá giang ở Sa Huỳnh… Dân vùng biển có món thịt heo ba chỉ cuốn bánh tráng chấm mắm cá ghim. Ra đảo Lý Sơn thì được thưởng thức món ốc tượng, ốc mặt trăng và món gỏi tỏi thơm lừng.

Bánh tráng vừa là món ăn, vừa là nguyên liệu, phụ liệu để chế biến món ăn của người Quảng Ngãi, từ bữa cơm bình dân đạm bạc đến các tiệc cưới, giỗ chạp, giao đãi bạn bè; từ các quán nhỏ đến những nhà hàng sang trọng… Dĩa bánh tráng cuốn dành riêng cho mỗi người điểm tâm buổi sáng; kẹp bánh tráng đập (bánh rập, bánh ướt ráo) thì nhiều người cùng ăn vào nửa buổi sáng hoặc xế buổi trưa. Bánh tráng mỏng dùng gói ram bắp bình dân, ram cuốn nhân thịt, nhân tôm trong tiệc cưới, trong ngày giỗ; cuốn thịt cá, rau tươi trong các nhà hàng. Bánh tráng dày, có khi rắc ít mè, nướng phồng xúc ruột hến xào hành, cá thài bai chiên trứng hoặc cho vào tô bún, tô cháo lòng cho thêm ngon miệng. Đem bánh tráng nướng phồng nhúng qua nước lã cho dịu rồi cuốn đọt rau muống chấm với mắm kho hoặc cuốn cá chuồn hấp là món ăn rất khoái khẩu của người bình dân Quảng Ngãi. Đặc biệt, trong mâm cổ cúng gia tiên ở khắp mọi miền quê Quảng Ngãi bao giờ cũng có những chiếc bánh tráng tròn trịa, nướng phồng xinh xắn gác lên trên. Khi đem mâm cỗ xuống bàn mời nhau hưởng lộc ông bà, sau ly rượu nhỏ, bao giờ gia chủ cũng bẻ bánh tráng mời khách trước khi dùng các món khác và xem đây là một nghi thức bắt buộc.

Nhiều món ăn, đặc sản của Quảng Ngãi đã trở thành những “thương hiệu” nổi tiếng như cá bống: sông Trà, chim mía, kẹo gương, mạch nha, đường phổi và món don… và đã đi vào câu ca dao:

“Chim mía Xuân Phổ

Cá bống sông Trà

Kẹo gương Thu Xà

Mạch nha Mộ Đức”

  hay:

“Phải đâu chàng nói mà xiêu

Tại con cá bống tại niêu nước chè”,

hoặc:

“Con gái còn son

Không bằng tô don Vạn Tượng”