10:59 08/03/2012
Cỡ chữ

Những năm qua, kinh tế của tỉnh luôn có sự tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng các ngành nông nghiệp.

Tàu cập cảng nước sâu Dung Quất

3.1. GDP

Những năm qua, kinh tế của tỉnh luôn có sự tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng các ngành nông nghiệp.

Bảng 1: Tăng trưởng GDP của Quảng Ngãi giai đoạn 2006 - 2010

ĐVT: tđồng

Chỉ tiêu

2006

2007

2008

2009

2010

GDP (giá 1994)

4,180

4,765

5,317

6,431

8,757

Trong đó:

 

 

 

 

 

Nông - lâm - thủy sản

1,437

1,525

1,547

1,615

1,683

Công nghiệp - xây dựng

1,299

1,649

1,955

2,769

4,730

Dịch vụ

1,417

1,591

1,814

2,047

2,343

Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Ngãi năm 2010

Riêng năm 2011, tổng giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm chỉ đạt gần 14.000 tỷ đồng (59,4% kế hoạch năm) giảm 3,5% so với cùng kỳ năm 2010; ngược lại tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đầu năm đạt 15.882,5 tỷ đồng, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm 2010 và bằng 73,7% kế hoạch năm.

3.2. Tổng vốn thu hút đầu tư

Trong giai đoạn 2007 - 2010, Quảng Ngãi đã thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư từ trong cũng như ngoài nước. Tổng số vốn đầu tư tăng từ 21.610.000 triệu đồng năm 2007 lên 24.470.000 triệu đồng năm 2008. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2009 - 2010 tổng vốn đầu tư có dấu hiệu chững lại và bắt đầu suy giảm, cụ thể vốn đầu tư giảm từ mức 16.390.000 triệu đồng trong năm 2009 xuống còn 15.482.000 triệu đồng năm 2010. Nguyên nhân của hiện tượng này là do những bất cập nảy sinh trong quá trình thu hút và xúc tiến đầu tư tại các khu kinh tế, khu công nghiệp như sự chồng chéo và khác biệt giữa văn bản quản lý nhà nước về Khu kinh tế; sự thiếu gắn kết giữa các cơ quan quản lý trực tiếp với hệ thống chính quyền xã, huyện và các sở ngành cấp tỉnh; sự đang xen về thẩm quyền trách nhiệm trong quản lý đầu tư, xây dựng đất đai, giải phóng mặt bằng, môi trường, lao động, đô thị…

Bên cạnh đó, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng kéo dài và hạ tầng tiện ích còn nhiều hạn chế; việc cải thiện môi trường đầu tư còn chậm…

Bảng 2: Tình hình thu hút vốn đầu tư của Quảng Ngãi giai đoạn 2006 - 2010

ĐVT: tỷ đồng

Chỉ tiêu

2006

2007

2008

2009

2010

Tổng vốn

9.819

21.610

24.470

16.390

15.482

Vốn khu vực kinh tế Nhà nước

7.410

18.210

19.234

10.836

9.493

Vốn ngoài Nhà nước

2.384

2.500

3.336

4.118

4.602

Vốn FDI

25

900

1.900

1.436

1.387

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2010

Tương tự, tình hình thu hút đầu tư trong những tháng đầu năm 2011 cũng gặp khá nhiều khó khăn, số lượng đoàn đến khảo sát, tìm hiểu cơ hội đầu tư ít hơn so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng đầu năm 2011, UBND tỉnh đã chấp thuận đầu tư 04 dự án, với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 2.314 tỷ đồng; chỉ đạo hướng dẫn thủ tục đầu tư cho 03 dự án mới và triển khai một số dự án đã được chấp thuận đầu tư.

3.3. Kim ngạch xuất nhập khẩu

3.3.1. Xuất khẩu

Mặc dù, bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế, song tình hình kinh tế - xã hội (KT-XH) của tỉnh Quảng Ngãi vẫn có những chuyển biến đáng mừng. Một trong những chuyển biến rõ nét nhất là hoạt động xuất nhập khẩu. Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh mới đạt ở mức 59 triệu USD. Trước đó năm 2007, kim ngạch xuất khẩu cũng chỉ ở con số 58 triệu USD. Năm 2009 đánh dấu bước đột phá trong hoạt động xuất khẩu của Quảng Ngãi. Với kim ngạch xuất khẩu đạt 140 triệu USD, lần đầu tiên hoạt động xuất khẩu tăng trên 200% so với một năm trước đó. Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Quảng Ngãi đạt trên 270 triệu USD, tăng hơn 48% so với năm 2009. Nhưng đến tháng 9.2011 thì theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa giảm nhẹ. Tính chung 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 155,2 triệu USD, chỉ bằng 63,9% so với cùng kỳ năm 2010.

3.3.2. Nhập khẩu

Cùng với xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu cũng có nhiều dấu hiệu tích cực. Nếu như trong các năm 2007 - 2008, tổng kim ngạch nhập khẩu chỉ ở mức vài chục triệu USD, thì qua năm 2009 kim ngạch nhập khẩu đạt tới 1.312 triệu USD. Đến năm 2010, con số này lên đến 3.349,602 triệu USD, tăng 127,6% so với năm 2009. Chín tháng đầu năm 2011, kim ngạch nhập khẩu đạt gần 3,27 tỷ USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm 2010.

3.4. Lượng khách du lịch

Hoạt động du lịch của tỉnh trong những năm qua cũng có dấu hiệu khởi sắc, số lượng khách đến tham quan, du lịch tại tỉnh năm sau luôn cao hơn năm trước. Tổng số khách qua các năm lần lượt là năm 2009: 409.309 người, trong đó khách quốc tế 19.805 người; năm 2010 đạt 494.665 người, trong đó có 26.736 khách quốc tế. Trong 9 tháng đầu năm 2011, tổng lượt khách ước đạt 308.340 lượt người, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó khách quốc tế ước đạt 24.622 lượt khách.

3.5. Khu kinh tế, khu công nghiệp

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có 1 khu kinh tế (KKT) là KKT Dung Quất và 3 khu công nghiệp (KCN) là KCN Quảng Phú, KCN Tịnh Phong, KCN Phổ Phong. Trong đó, KKT Dung Quất với diện tích trên 10.000 ha được định hướng xây dựng để trở thành khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực với trọng tâm là phát triển công nghiệp lọc dầu - hóa dầu - hóa chất, các ngành công nghiệp có quy mô lớn bao gồm: công nghiệp cơ khí, đóng và sửa chữa tàu biển, luyện cán thép, sản xuất xi măng, sản xuất container và các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu. Đồng thời phát triển và khai thác có hiệu quả cảng biển nước sâu Dung Quất, sân bay quốc tế Chu Lai và đô thị công nghiệp - dịch vụ Vạn Tường, đô thị Dốc Sỏi.

Thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển các cụm kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, tỉnh đã từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật thiết yếu, sử dụng tối đa hiện trạng, đầu tư bổ sung, xây dựng mới các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CCN-TTCN). Từ năm 2003 đến năm 2005, Quảng Ngãi đã triển khai lập quy hoạch chi tiết cho 13 cụm CN và 03 điểm công nghiệp với tổng diện tích là 171,3 ha. Các cụm công nghiệp (CCN) đã đầu tư phát triển phát triển và đã có những kết quả ban đầu là CCN Sa Huỳnh, CCN Tịnh Ấn Tây, CCN Bình Nguyên. Ngoài ra, tỉnh cũng có kế hoạch, quy hoạch phát triển các CCN-TTCN, làng nghề tại các huyện: Đức Phổ, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Bình Sơn, Mộ Đức, Sơn Tịnh, Lý Sơn…

Những tiềm năng kết hợp hài hòa với nhau ấy đã và đang ngày qua ngày thay đổi diện mạo của một vùng quê cách mạng. Cùng với sự chung sức, chung lòng nỗ lực quyết tâm xây dựng quê hương của lãnh đạo và nhân dân Quảng Ngãi trong thời gian không xa, chúng ta có thể hy vọng về một Quảng Ngãi đầy sức sống, đủ sức hấp dẫn mọi cá nhân, tổ chức đến tham quan, du lịch cũng như xúc tiến đầu tư.

3.6. Các ngành kinh tế mũi nhọn

3.6.1. Công nghiệp

Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với khu vực Dung Quất được Chính phủ chọn để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của cả nước và hiện đã đi vào hoạt động, đồng thời hình thành KKT Dung Quất nối liền với KKT mở Chu Lai của Quảng Nam. Đây là lợi thế rất quan trọng, tạo điều kiện để tỉnh phát triển nhanh công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đi kèm theo chương trình phát triển lọc dầu của quốc gia, đồng thời góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với định hướng phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, rõ ràng ngành công nghiệp có một vai trò rất quan trọng, là động lực phát triển kinh tế của Quảng Ngãi trong hiện tại cũng như tương lai.

Với định hướng phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Quảng Ngãi xác định công nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh có tính đột phá. Tập trung phát triển công nghiệp ở KKT Dung Quất và các cụm công nghiệp làng nghề. Phát huy lợi thế cảng biển nước sâu để phát triển ngành công nghiệp nặng có ý nghĩa chiến lược, có giá trị tăng cao như: công nghiệp lọc hóa dầu, gia công kim loại, đóng tàu, khai khoáng, năng lượng điện.

Trong đó, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp (CN) như chế biến nông, lâm, thủy sản; khai thác chế biến khoáng sản và vật liệu xây dựng; CN hóa chất; cơ, kim khí và điện tử tin học; CN điện, nước; dệt may; TTCN - làng nghề; phát triển KKT, các KCN của tỉnh. Đặc biệt là tập trung đẩy mạnh đầu tư phát triển Dung Quất theo hướng trở thành một KKT tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực với ngành kinh tế mũi nhọn là lọc hóa dầu và luyện cán thép, đóng tàu biển, các ngành CN có quy mô lớn gắn với cảng biển nước sâu Dung Quất, sân bay Chu Lai và đô thị - dịch vụ Vạn Tường, đô thị Nam Dốc Sỏi.

Bên cạnh đó, tận dụng những lợi thế về biển, trong thời gian gần đây Quảng Ngãi đã xác định phải phát triển kinh tế biển trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn tại một số địa phương như huyện đảo Lý Sơn.

3.6.2. Du lịch

Những năm gần đây, Quảng Ngãi đã trở thành một vùng đất đầy hứa hẹn về đầu tư và du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng du lịch đã và đang được đầu tư. Đồng thời để tạo ra các sản phẩm đặc trưng du lịch Quảng Ngãi tiếp tục mở các tuyến du lịch mới: Thành phố Quảng Ngãi - đảo Lý Sơn, Thành phố Quảng Ngãi - di tích Bệnh xá Đặng Thùy Trâm - Sa Huỳnh… Hiện nay ngành du lịch Quảng Ngãi đang tìm kiếm các nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư vào các khu du lịch sinh thái biển và rừng đã được lập quy hoạch như: khu du lịch Mỹ Khê, khu du lịch Sa Huỳnh, khu du lịch Vạn Tường, khu du lịch Cà Đam… nhằm khai thác tiềm năng phong phú và đa dạng này. Từ năm 2003 - 2010, tỉnh Quảng Ngãi cũng đã đầu tư gần 83,5 tỷ đồng phát triển kết cấu hạ tầng du lịch. Những năm qua, tỉnh cũng đã cấp phép 19 dự án đầu tư phát triển du lịch với tổng nguồn vốn gần 14.730 tỷ đồng. Đến cuối năm 2010, trên địa bàn tỉnh có 65 cơ sở lưu trú với 1.800 phòng, chủ yếu tại thành phố Quảng Ngãi và các huyện Bình Sơn, Đức Phổ, Sơn Tịnh.

Hiện nay, du lịch Quảng Ngãi đang đứng trước thời cơ lớn để hội nhập và phát triển khi bùng nổ nhu cầu về dịch vụ nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, khách sạn, nhà hàng cao cấp phục vụ hàng ngàn chuyên gia nước ngoài và hàng chục ngàn kỹ sư, công nhân Việt Nam đến tỉnh sinh sống và làm việc tại các nhà máy công nghiệp lớn. Một thị trường mở, ổn định và đầy tiềm năng đang hứa hẹn những mùa vàng bội thu đối với các nhà đầu tư, các nhà cung cấp dịch vụ chất lượng cao.

Tỉnh Quảng Ngãi đã đề ra mục tiêu từ nay đến năm 2015 phát triển du lịch thành ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, là một trong những tâm điểm du lịch trong vùng miền Trung - Tây Nguyên; phấn đấu đến năm 2020, du lịch của tỉnh được xếp vào nhóm các tỉnh có du lịch phát triển trong cả nước.

Trong đó, các chỉ tiêu chủ yếu: đến năm 2015 thu hút 600.000 lượt du khách, doanh thu đạt khoảng 700 tỷ đồng; đến năm 2020 thu hút khoảng 950.000 lượt du khách,  đạt khoảng 1.000 tỷ đồng; lao động trong ngành du lịch đến năm 2015 đạt khoảng 12.400 người...

Ruộng muối Sa Huỳnh

3.6.3. Dịch vụ

Theo quy hoạch phát triển Quảng Ngãi đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt thì Quảng Ngãi phấn đấu phát triển nhanh và đa dạng các loại hình dịch vụ, nâng tỷ trọng dịch vụ trong GDP lên 30,8% vào năm 2015 và trên 32,4% vào năm 2020. Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đạt 400 - 410 triệu USD vào năm 2020.

Đẩy mạnh các hoạt động bảo hiểm (nhân thọ, phi nhân thọ) và các dịch vụ tài chính khác (cho thuê tài chính, dịch vụ thẻ tín dụng, tư vấn tài chính…) gắn với sự phát triển của KKT Dung Quất.

Phát triển nhanh các loại hình dịch vụ khác như dịch vụ đào tạo, dịch vụ tư vấn, chuyển giao công nghệ…

3.6.4. Nông - lâm - thủy sản

Phát triển nông, lâm, thủy sản theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa bền vững về sinh thái, cung cấp các sản phẩm nông nghiệp sạch có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và hướng ra xuất khẩu.

Phát triển mạnh chăn nuôi, thủy sản và các dịch vụ kỹ thuật chăn nuôi. Kết hợp phát triển sản xuất nông sản hàng hóa với đảm bảo chất lượng nông sản và vệ sinh an toàn thực phẩm. Giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha đất canh tác đạt 50 triệu đồng vào năm 2015 và 55 triệu đồng vào năm 2020. Sản lượng lương thực bình quân đầu người tương ứng là 332 kg và 307 kg vào các năm 2015 và 2020. Sản lượng thịt hơi các loại 81.000 tấn vào năm 2015 và 130.000 tấn vào năm 2020.

Hình thành những vùng chuyên canh như vùng lúa chất lượng cao, vùng thâm canh rau sạch áp dụng quy trình, kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, tăng giá trị đầu tư/ha đất canh tác. Áp dụng công nghệ tiên tiến sau thu hoạch gắn với việc tổ chức tiêu thụ hàng hóa cho nông dân. Tạo việc làm phi nông nghiệp để giảm lao động trong nông nghiệp xuống 40% trong tổng lao động vào năm 2020.

Đầu tư phát triển lâm nghiệp theo hướng đẩy mạnh công tác trồng rừng, kết hợp với khoanh nuôi phục hồi và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn. Nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 47-48% năm 2015 và trên 50% vào năm 2020.

Đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thủy sản, trước hết là cảng cá Sa Huỳnh, cảng cá Sa Cần, Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Sa Kỳ; nạo, vét cửa Cửa Đại (Nghĩa Phú),… Chuẩn bị và triển khai xây dựng cảng cá Mỹ Á, Cửa Đại - Cổ Lũy. Sau năm 2015, lập quy hoạch tiếp tục xây dựng, mở vũng neo đậu tàu thuyền và trung tâm dịch vụ nghề cá Lý Sơn tầm cỡ khu vực miền Trung.

3.7. Hợp tác đầu tư

Tuy nhiên, nếu có tiềm năng, nền tảng vững chắc mà không có chính sách, cách làm hợp lý thì cũng rất khó mà thu hút được đầu tư. Hiểu được điều đó, trong thời gian qua các nhà đầu tư khi đến với Quảng Ngãi đều được tỉnh đáp ứng tốt các dịch vụ từ thủ tục hành chính “một cửa”, hải quan, bưu điện, ngân hàng, kho bãi cho đến các nhu cầu về y tế, giải trí, giáo dục, đi lại... Đặc biệt, nguồn cung cấp lao động tại địa phương và các vùng phụ cận luôn rất dồi dào, trình độ đáp ứng được với công việc theo yêu cầu của nhà đầu tư. Giá thuê đất lại đặc biệt ưu đãi, thời hạn thuê đất dài đến năm 2047. Các chính sách ưu đãi này luôn được chính quyền tỉnh đảm bảo ổn định lâu dài, nếu có thay, sẽ luôn theo hướng vượt trội, hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Nhờ vậy mà Quảng Ngãi đang ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư.

Cách đây 10 năm, kinh tế Quảng Ngãi vẫn còn kém phát triển, thu ngân sách hằng năm chỉ vào khoảng ba, bốn trăm tỷ đồng. Để phát triển kinh tế, Quảng Ngãi đã nỗ lực thu hút hàng trăm dự án (DA), trong đó có nhiều DA quy mô lớn. Đây được xem là giai đoạn “bùng nổ đầu tư” và đã có những thành quả nhất định.

Tình hình thu hút và thực hiện các dự án FDI: Trong năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 01 dự án FDI (dự án Giày da Ricker đầu tư tại KCN Tịnh Phong) được cấp mới với tổng vốn đăng ký là 290 tỉ đồng. Lũy kế đến năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 20 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký là 60.801 tỉ đồng. Vốn thực hiện của các dự án FDI năm 2011 ước đạt khoảng 9,5 triệu USD, bằng 14,5% so với 2010.

Tình hình cấp giấy phép đầu tư và thực hiện các dự án đầu tư trong nước: Trong năm, có 27 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 12.695 tỉ đồng. Lũy kế đến năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 269 dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 112.256 tỷ đồng. Vốn thực hiện của các dự án đạt 2.350 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2010. Lũy kế vốn thực hiện của các dự án đến nay khoảng 70.300 tỉ đồng. Trong năm 2011, có 05 dự án bị thu hồi Chứng nhận đầu tư.

Hoạt động xúc tiến đầu tư: Hướng dẫn đầu tư và hỗ trợ thủ tục đối với các dự án đầu tư vào tỉnh. Tham gia chuyến xúc tiến đầu tư tại Nhật Bản và Hàn Quốc, các hội thảo tại các diễn đàn lớn như Diễn đàn Việt - Nhật,...;tham gia triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội 20 năm (1990 - 2010) của tỉnh Quảng Ngãi, hỗ trợ quảng bá thương hiệu Tỏi Lý Sơn, Quế Trà Bồng,… UBND tỉnh đã làm việc và ký Bản ghi nhớ với Công ty Liên doanh TNHH KCN Việt Nam - Singapore về triển khai thực hiện dự án đầu tư khu công nghiệp và khu dân cư - thương mại theo mô hình KCN và đô thị, dịch vụ VSIP.

 3.8. Quy hoạch phát triển KT-XH tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 

Những chuyển biến tích cực nêu trên là kết quả của những nỗ lực không ngừng của lãnh đạo và nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Trên cơ sở phát huy những thành tích đã có, đồng thời khắc phục những điểm còn yếu kém, tỉnh Quảng Ngãi đã đề ra Quy hoạch phát triển tổng thể KT-XH đến năm 2020. Theo đó, mục tiêu phấn đấu của tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 như sau:

3.8.1. Về kinh tế

Phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân 14%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015 và 12 - 13%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020. GDP bình quân đầu người vào năm 2015 đạt 2.000 - 2.200 USD/người, và 4.300 - 4.500 USD/người vào năm 2020. Đặt mục tiêu đến năm 2020, tỷ trọng dịch vụ trong GDP đạt 32 - 35%.

3.8.2. Về xã hội

Phấn đấu trong giai đoạn 2011 - 2015 giải quyết được 35 - 38 ngàn việc làm cho người dân, giai đoạn 2016 - 2020 sẽ nâng lên 38 - 45 ngàn việc làm. Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 35% vào năm 2015 và 42% năm 2020. Tăng thu nhập bình quân đầu người của tỉnh vào năm 2020 lên khoảng 1,2 lần. Phấn đấu đến năm 2015 chỉ còn dưới 8% số hộ nghèo (theo tiêu chuẩn mới), và 6% vào năm 2020. Phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội đảm bảo đời sống, sức khỏe cho nhân dân. Giảm dần tốc độ tăng dân số, thời kỳ 2011 - 2015 còn 0,9%/năm và 0,87%/năm thời kỳ 2016 - 2020.

Đối với từng ngành, từng lĩnh vực, quy hoạch xác định các mục tiêu sau:

a. Công nghiệp: Phát triển công nghiệp với nhịp độ cao. Phấn đấu nâng tỷ trọng GDP công nghiệp - xây dựng lên 60% vào năm 2020. Giai đoạn 2011 - 2015 phát triển ngành công nghiệp hóa dầu và các sản phẩm từ dầu. Giai đoạn 2016 - 2020 phát triển tổ hợp lọc dầu mới, nâng tổng giá trị các sản phẩm hóa dầu lên 1,5 - 2 lần so với năm 2015 và giá trị gia tăng của phân ngành lên 3 lần so với năm 2015. Đầu tư sản xuất các trang thiết bị điện và điện tử cao cấp phục vụ nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Phát triển công nghiệp điện tử tin học theo hướng gia công phần mềm, tích hợp hệ thống nhằm hỗ trợ cho việc phát triển các sản phẩm thiết bị cơ khí, điện tử…

Khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm. Du nhập và phát triển các ngành, nghề mới. Phát triển các khu công nghiệp của tỉnh gắn với KKT Dung Quất theo hướng hiện đại, đồng bộ. Lấp đầy KCN Tịnh Phong, KCN Quảng Phú vào năm 2015. Theo quy hoạch, các ngành công nghiệp lọc hóa dầu và hóa chất cùng với ngành công nghiệp cơ khí và luyện kim được xác định là những ngành kinh tế mũi nhọn, quyết định sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh và các ngành khác.

b. Dịch vụ: Nâng tỷ trọng dịch vụ trong GDP lên 30,8% vào năm 2015 và 32,4% vào năm 2020. Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa dịch vụ đạt 400 - 410 triệu USD vào năm 2020.

c. Thương mại: Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội thời kỳ 2011 - 2015 đạt 16 -18%/năm, thời kỳ 2016 - 2020 là 16%/năm. Phấn đấu đến năm 2020 tỷ trọng dịch vụ trong GDP đạt 32 - 35%.

d. Du lịch: Phát triển nhanh, ổn định và bền vững theo hướng du lịch văn hóa - lịch sử, sinh thái, lễ hội và cảnh quan môi trường. Quy hoạch phát triển thành 5 khu du lịch chính: khu du lịch (KDL) trung tâm thành phố (thành phố Quảng Ngãi và vùng phụ cận), KDL Đông Bắc (Vạn Tường và phụ cận), KDL phía Nam (Ba Tơ và phụ cận), KDL Tây Bắc (Trà Bồng và phụ cận).

e. Vận tải: Đầu tư nâng cấp cảng Sa Kỳ và phương tiện vận tải ra đảo Lý Sơn. Mở các tuyến vận tải nội tỉnh và liên tỉnh, mở thêm một số tuyến xe buýt chất lượng cao đi nội tỉnh và các tỉnh lân cận, phát triển hệ thống xe taxi.

f. Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm: Tăng cường công tác huy động vốn tại địa phương của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, mở rộng vốn đầu tư cho các thành phần kinh tế, đảm bảo tín dụng tăng trưởng ổn định. Đẩy mạnh các hoạt động bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác. Phát triển các loại hình dịch vụ đào tạo, tư vấn, chuyển giao công nghệ…

g. Nông, lâm, thủy sản: Phát triển nông, lâm, thủy sản theo hướng CNH, HĐH, bền vững về sinh thái, cung cấp các sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và hướng ra xuất khẩu. Kết hợp phát triển sản xuất nông sản hàng hóa với đảm bảo chất lượng nông sản và vệ sinh an toàn thực phẩm. Hình thành các vùng chuyên canh vùng lúa, vùng rau sạch. Áp dụng công nghệ tiên tiến sau thu hoạch gắn với việc tổ chức tiêu thụ hàng hóa cho nông dân.

Tạo việc làm phi nông nghiệp để giảm lao động nông nghiệp xuống 40% trong tổng lao động vào năm 2020. Đầu tư phát triển lâm nghiệp theo hướng đẩy mạnh trồng rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 47 - 48% năm 2015 và 50% năm 2020. Xây dựng hệ thống hạ tầng thủy sản: cảng cá Sa Huỳnh, Sa Cần, Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá Sa Kỳ, nạo vét Cửa Đại. Sau năm 2015, tiến hành xây dựng, mở vùng neo đậu tàu thuyền và Trung tâm dịch vụ nghề cá Lý Sơn đạt tầm cỡ khu vực miền Trung.

 

Tài liệu tham khảo

1. Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi, Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2010, Nxb Thống kê, 2011.

2. Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ngãi: www.quangngai.gov.vn

3. Dư địa chí Quảng Ngãi: http://bbs.keyhole.com/ubb/ubbthreads.php?ubb=showflat-&Number=1409574 

4. http://cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=7814#ixzz1lZIa1kTq

5. http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%BF_Hanh

6. Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

7. http://nhaque.wordpress.com/2007/09/16/la%CC%80ng-nghe%CC%80-%C6%A1%CC%89-qua%CC%89ng-nga%CC%83i/

8. http://www.vietnamplus.vn/Home/Quang-Ngai-se-la-tam-diem-du-lich-o-mien-Trung/201112/115962.vnplus

9. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Quảng Ngãi năm 2011 và định hướng nhiệm vụ năm 2012.

kem trị mụn